SƠ LƯỢC VỀ PHẬT GIÁO THỜI LÝ QUA MỘT SỐ NGUỒN SỬ LIỆU

Phật giáo để lại dấu ấn sâu sắc trong đời sống văn hóa nước ta thời Bắc thuộc. Vào thế kỷ VI, ở nước ta đã hình thành các tăng đoàn, dịch kinh Phật, xây dựng chùa và sáng tác các sách nói về đạo Phật. Trung tâm Phật giáo tại Luy Lâu, Giao Châu là một trong ba trung tâm Phật giáo lớn thời Đông Hán. Đến thời Lý, Phật giáo phát triển rất mạnh mẽ và có nhiều đóng góp trong tín ngưỡng, phong tục, tâm lý của người Việt.

Phật giáo là một trào lưu tư tưởng lớn, thuộc hệ thống triết học Ấn Độ cổ đại, xuất hiện ở miền Bắc Ấn Độ. Người sáng lập ra đạo Phật là Thích Ca Mâu Ni. Cơ sở tư tưởng và cốt lõi của Phật giáo là Tứ diệu đế giải thích nguyên nhân sự khổ trong luân hồi và làm thế nào để giải trừ đau khổ. Phật giáo truyền vào nước ta vào khoảng đầu công nguyên theo hai con đường: Theo đường bộ, từ Ấn Độ truyền vào Trung Quốc rồi sang Việt Nam và theo đường biển từ Ấn Độ theo các thương thuyền dọc bờ biển vào Việt Nam.

Trong thế kỷ X, nhà nước mới được xây dựng, đang dần dần tự củng cố. Nhà nước độc lập non trẻ cần một điểm tựa về ý thức, một công cụ tinh thần để xây dựng và quản lý đất nước. Trong khi Nho giáo chưa được phát triển đầy đủ, Phật giáo đã chiếm được ưu thế trong xã hội. Nhà Đinh cho xây dựng nhiều chùa ở kinh đô Hoa Lư và vùng bắc sông Hồng. Nhà Đinh, Tiền Lê cũng chú trọng sử dụng các nhà sư trong việc xây dựng bộ máy nhà nước.

  1. Sự phát triển của Phật giáo dưới thời Lý

Sang thời Lý, Phật giáo từ một tôn giáo trở thành quốc giáo của nước Đại Việt. Ngay sau khi lên ngôi, xác lập triều đại nhà Lý, vua Lý Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư về Thăng Long đánh dấu một trang sử mới trong lịch sử dân tộc. Ngoài việc bảo vệ nền độc lập, vua Lý cũng chăm lo phát triển kinh tế, thúc đẩy văn hóa và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Trong đó đáng chú ý là sự hưng thịnh của Đạo Phật.

Sự hưng thịnh đó được thể hiện rõ qua việc các công trình chùa chiền được xây dựng với quy mô lớn trong cả nước. Vua Lý đã cho xây dựng rất nhiều chùa chiền để thờ Phật. Thống kê trong chính sử, số chùa chiền được xây dựng dưới các đời vua như sau:

STT Tên vấn đề Năm Địa điểm

(nếu có)

Thông tin đi kèm Ghi chú
  Đời vua Lý Thái Tổ (1010-1028)        
1.         Xây 8 chùa 1010 Phủ Thiên Đức Phát tiền kho 2 vạn quan, dựng chùa và bia ghi công Không có tên chùa

Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục

2.         Hưng Thiên Ngự Tự 1010 Trong thành   ĐVSKTT, ĐVSL, VSL, KĐVSTGCM
3.         Chùa Thắng Nghiêm 1010 Ngoài thành phía nam   ĐVSKTT, ĐVSL, VSL,  KĐVSTGCM
4.         Chùa Vạn Tuế 1011 Bên hữu trong thành   ĐVSKTB, KĐVSTGCM
5.         Chùa Tứ Đại Thiên Vương 1011 Ngoài thành   ĐVSKTT

 (Việt sử lược chép: chùa Tứ Thiên Vương)

6.         Chùa Cẩm Y 1011 Ngoài thành   ĐVSKTT, ĐVSKTB, KĐVSTGCM
7.         Chùa Long Hưng 1011 Ngoài thành   ĐVSKTT, ĐVSKTB, KĐVSTGCM
8.         Chùa Thánh Thọ 1011 Ngoài thành   ĐVSKTT, ĐVSKTB, KĐVSTGCM

(Việt sử lược chép: Long Cụ Thánh Thọ)

9.         Chùa Thiên Quang 1016     ĐVSTTT, VSL, ĐVSL

(Đại Việt sử ký tiền biên chép là Thiện Quang, Thiện Đức

10.     Chùa Thiên Đức 1016     ĐVSTTT,VSL, ĐVSL. (Đại Việt sử ký tiền biên chép là Thiện Đức)
11.     Chùa Chân Giáo 1024 Trong thành Để tiện vua tụng kinh ĐVSKTT, ĐVSKTB, KĐVSTGCM
   Đời vua Lý Thái Tông (1028-1054)        
1.         Xây chùa chiền 150 chỗ 1030/

1031

Các làng ấp Ban chiếu phát tiền thuê thợ ĐVSKTT,ĐVSL,VSL, ĐVSKTB

(Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép 950 nơi;

Đại Việt sử ký toàn thư chép là năm 1030

(mở hội khánh thành trên cả nước)

2.         Vua ngự đến núi Tiên Du xem làm viện Từ Thị Thiên Phúc 1041 Núi Tiên Du   ĐVSKTT
3.         Dựng chùa Diên Hựu 1049 (Thôn Thanh Bảo huyện Vĩnh Thuận)   ĐVSKTT,ĐVSKTB,KĐVSTGCM
  Đời vua Lý Thánh Tông (1054-1072)        
1.         Chùa Đông Lâm 1055 Núi Đông Cửu   VSL
2.         Chùa Tĩnh Lự 1055 Núi Đông Cửu   VSL
3.         Làm chùa Sùng Khánh Bảo Thiên 1056     ĐVSKTT,VSL,ĐVSL, KĐVSTGCM

Việt sử lược chép là Sùng Khánh Báo Thiên

4.         Dựng chùa Thiên Phúc 1057     ĐVSKTT, ĐVSL, VSL
5.         Dựng chùa Thiên Thọ 1057     ĐVSKTT, ĐVSL, VSL
6.         Xây chùa Chùa Sùng Nghiêm Báo Đức 1059 Châu Vũ Ninh   ĐVSL,VSL
7.         Chùa Tiêu Sơn 1063 Núi Tiên Du   ĐVSKTT, ĐVSL, VSL, ĐVSKTB
8.         Chùa Nhị Thiên Vương 1070 Ở Đông Nam.   VSL
a.       IV. Đời vua Lý Nhân Tông (1072-1127)        
1.                 Lập Viện Địa tạng trong miếu Vương Thành 1073 Châu Nghệ An   ĐVSKTT
2.         Thái hậu đi chơi khắp các nơi núi sông, ý muốn xây dựng chùa tháp 1085     ĐVSKTT
3.         Làm chùa Đại Lãm Sơn ở núi Đại Lãm 1085/1086 Núi Đại Lãm (chùa Giạm, xã Nam Sơn huyện Quế Võ, Bắc Ninh cũ)   ĐVSKTT

(Việt sử lược, Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép năm 1086)

4.         Thái hậu làm nhiều chùa Phật 1097     ĐVSKTT
5.         Xây chùa An Lão 1099 Núi An Lão thuộc Nam Hà   VSL, ĐVSL
6.         Xây chùa Vĩnh Phúc 1100 Núi Tiên Du (Bắc Ninh)   VSL, ĐVSL
7.         Xây chùa Khai Nguyên 1101     ĐVSL
8.         Xây chùa Thái Dương 1101     ĐVSL
9.         Xây chùa Bắc Đế 1101     ĐVSL
10.     Dựng chùa Thắng Nghiêm 1114     VSL, ĐVSL
11.     Thái hậu dựng chùa để thờ Phật, trước sau hơn trăm chùa 1115   Liên quan đến việc Thượng Dương thái hậu và các thị nữ vô tội bị chết ĐVSKTT
12.     Chùa Sùng Phúc 1115 Hương Siêu Loại (Bắc Ninh)   VSL
13.     Mở hội Thiên phật để khánh thành chùa Thắng Nghiêm Thánh Thọ 1118   Cho sứ giả đến xem ĐVSKTT
14.     Khánh thành chùa Tịnh Lự 1119     ĐVSKTT
15.     Mở hội khánh thành chùa Bảo Thiên 1121     ĐVSKTT
16.     Làm chùa Quảng Giáo 1121     ĐVSKTT
17.     Mở hội khánh thành chùa Quảng Hiếu 1123 Tiên Du   ĐVSKTT
18.     Dựng chùa Hộ Thánh 1124     ĐVSKTT
19.     Khánh thành chùa Trung Hưng Diên Thọ 1127     ĐVSKTT
b.      V. Đời vua Lý Thần Tông (1127-1138)        
1.         Khánh thành chùa Quảng Nghiêm Tư Khánh 1130   Tha cho người có tội ĐVSKTT
2.         Dựng nhà chùa Diên Sanh Ngũ nhạc 1133     ĐVSL
3.         Dựng hai chùa Thiên Ninh, Thiên Thành 1134     ĐVSKTT
4.         Khánh thành chùa Linh Cảm 1137   Tha người có tội trong nước ĐVSKTT, KĐVSTGCM
c.       VI. Đời vua Lý Anh Tông (1138-1175)        
1.       1.

 

Dựng chùa Vĩnh Long 1145     ĐVSKTT, KĐVSTGCM
2.         Dựng chùa Phúc Thánh 1145     ĐVSKTT, KĐVSTGCM
3.         Xây chùa Chân Giáo 1158     VSL,ĐVSL
4.         Dựng chùa Pháp Vân 1161 Chùa Pháp Vân (ở Cổ Châu (châu Cổ Pháp) tục gọi là chùa Dâu ở Khương Tự, Thuận Thành, Bắc Ninh   ĐVSKTT

VSL,ĐVSL, ĐVSKTB

 

d.      VII. Vua Lý Cao Tông (1175-1210)        
1. Xây chùa Thánh Huân 1206     ĐVSL,VSL

Như vậy, trong 50 dữ kiện ghi chép về việc xây dựng chùa chiền thời Lý thì có những lần chung chung số lượng vào các năm 1010 ghi làm 8 chùa ở phủ Thiên Đức; 1011 ghi làm chùa ở 150 chỗ (Khâm Định Việt sử thông giám cương mục ghi làm ở 950 chỗ), và 1097 năm 1115 nói đến việc Thái hậu xây dựng nhiều tượng Phật. Còn lại các lần ghi chép khác đều ghi tên cụ thể của các ngôi chùa được xây dựng từ thời Lý. Cụ thể, trong tổng số 46 chùa thì đời vua Lý Thái Tổ (1009-1028) xây dựng 10 chùa: Hưng Thiên Ngự tự, Thắng Nghiêm, Vạn Tuế, Tứ Đại Thiên Vương, Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thọ, Thiên Quang, Thiên Đức, Chân Giáo. Đời vua Lý Thái Tông xây dựng 2 viện, chùa: Viện Từ Thị Thiên Phúc, Chùa Diên Hựu. Vua Lý Thánh Tông (1054-1072) xây dựng 8 chùa có tên cụ thể: Đông Lâm, Tĩnh Lự, Sùng Khánh Bảo Thiên, Thiên Phúc, Thiên Thọ, Sùng Nghiêm Báo Đức, Tiêu Sơn, Nhị Thiên Vương. Vua Lý Nhân Tông (1072-1127) cho xây dựng 19 chùa, viện có tên: Viện Địa Tạng, Đại Lãm Sơn, An Lão, Vĩnh Phúc, Khai Nguyên, Thái Dương, Bắc Đế, Thắng Nghiêm, Sùng Phúc, Thánh Thọ, Tịnh Lự, Bảo Thiên, Quảng Giáo, Quảng Hiếu, Trung Hưng Diên Thọ. Vua Lý Anh Tông (1138-1138) xây dựng 4 chùa có tên: Vĩnh Long, Phúc Thánh, Chân Giáo, Pháp Vân. Vua Lý Cao Tông (1175-1210) chỉ xây chùa Thánh Huân năm 1206. Không thấy ghi chép về việc vua Lý Huệ Tông (1210-1224) và vua Lý Chiêu Hoàng (1224-1225) về việc xây dựng chùa chiền vì đến đời vua Lý Huệ Tông, nhà nước phong kiến đã suy yếu, nền chính trị bất ổn và vua Lý Chiêu Hoàng (1224-1225) sau khi lên ngôi nhanh chóng truyền ngôi cho nhà Trần.

Về địa điểm xây dựng chùa: trong số các dữ kiện lịch sử nêu trên có 10 chùa được nêu rõ xây dựng ở trong hoặc ngoài kinh thành Thăng Long; 8 chùa được xây dựng ở Bắc Ninh ngày nay, 1 chùa ở châu Vũ Ninh, 1 chùa ở Hà Nam, 1 chùa ở Châu Nghệ An, 2 chùa ở núi Đông Cửu (không rõ ở đâu), 22 chùa có tên trong chính sử không ghi rõ địa điểm xây dựng. Như vậy, nhà Lý quan tâm chú trọng việc xây dựng các chùa ở kinh thành Thăng Long và trên quê hương của nhà Lý. Đây trở thành hai trung tâm Phật giáo lớn thời bấy giờ.

Không chỉ xây dựng chùa, nhà Lý còn chú trọng phát triển những lễ hội gắn liền với những địa điểm tâm linh nêu trên. Nhà nước tổ chức nhiều lễ khánh thành với quy mô lớn là ngày hội văn hóa đối với người dân như: mở hội Thiên phật để khánh thành chùa Thắng Nghiêm năm 1010, chùa Thắng Thọ năm 1118, khánh thành chùa Tịnh Lự năm 1119, mở hội khánh thành chùa Bảo Thiên năm 1121, mở hội khánh thành chùa Quảng Hiếu năm 1123, khánh thành chùa Trung Hưng Diên Thọ năm 1127; khánh thành chùa Quảng Nghiêm Tư Khánh năm 1130; khánh thành chùa Linh Cảm năm 1137. Ngôi chùa được xây dựng không chỉ là biểu tượng vật chất của của đời sống tôn giáo mà còn là điểm hội tụ văn hóa, tư tưởng của nhân dân.

Về việc sửa chữa chùa: các nguồn tài liệu ghi chép lại không nhiều về việc sửa chữa chùa chiền tuy nhiên những chùa được sửa chữa ắt hẳn phải có vai trò quan trọng trong đời sống Phật giáo thời Lý. Chùa Diên Hựu được sửa chữa vào những năm 1101; năm 1105 sửa chữa trên quy mô lớn: “Mùa thu, tháng 9, làm hai ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu, ba ngọn tháo chỏm đá ở chùa Lãm Sơn. Bấy giờ vua sửa lại chùa Diên Hựu đẹp hơn cũ, đào hồ Liên Hoa Đài, gọi là hồ Linh Chiểu. Ngoài hồ có hành lang chạm vẽ chạy chung quang, ngoài hành lang lại đào hồ gọi là hồ Bích Trì, đều bắc cầu vồng để đi qua. Trước sân chùa xây bảo tháp”[1]. Chùa Diên Hựu trở thành địa điểm sinh hoạt Phật giáo của cung đình “hàng tháng cứ ngày rằm, mồng một và mùa hạ, ngày mồng 8 tháng 4, xa giá gự đến, đặt lễ cầu phúc, bày nghi thức tắm Phật, hàng năm lấy làm lệ thường”[2]. Chùa Chân Giáo cũng được sửa chữa hai lần vào năm 1169, 1179 cũng là chùa có vị trí quan trọng trong đời sống Phật giáo ở Thăng Long – được dựng trong thành để vua tiện đến tụng kinh.

Để tăng thêm giá trị cho các công trình kiến trúc Phật giáo và thể hiện trình độ tư duy triết học thời bấy giờ, ngoài việc xây dựng chùa chiền thì các vị vua triều Lý còn cho xây tháp, tô tượng, đắp chuông.

Thống kê trong sử sách triều Lý đã tiến hành như sau:

STT Tên vấn đề Năm Địa điểm

(nếu có)

Thông tin

đi kèm

Ghi chú
  Xây tháp        
1.        Xây bảo tháp Đại Thắng Tự Thiên cao 12 tầng 1057 Chùa Báo Thiên (Phường Báo Thiên, thôn Tiên Thị, huyện Thọ Xương tình Hà Nội, dấu vết chùa vẫn còn   (ĐVSL, VSL chép 30 tầng, Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép năm 1056 )
2.        Xây tháp Đồ Sơn 1058 Biển ba Lộ (Cửa biển Ba Lộ tại mỏn Đồ Sơn nay)   VSL
3.        Đặt tên là tháp Tường Long 1059     ĐVSL,VSL
4.        Xây tháp 1066 ở núi Tiên Du   ĐVSKTT,VSL
5.        Xây tháp chùa Lãm Sơn 1088 Chùa Lãm Sơn   (Đại Việt sử lược chép năm 1093 làm xong đổi tên là chùa Cảnh Long Đồng Khánh)
6.        Làm 2 tháp bằng sứ trắng 1105 Đặt ở chùa Diên Hựu   ĐVSKTT
7.        Làm 3 tháp bằng đá 1105 Đặt ở chùa Lãm Sơn   ĐVSKTT, ĐVSL
8.        Xây tháp Chương Sơn 1105     ĐVSL

(Việt sử lược chép 1108)

9.        Khánh thành Bảo Tháp Vạn Phong Thành Thiện 1117 Núi Chương Sơn (huyện Mỹ Đức ngày nay)   ĐVSKTT, ĐVSL
10.    Khánh thành bảy bảo tháp 1118   Sứ Chân Lạp sang chầu. Xuống chiếu cho Hữu ty bày nghi trượng ở điện Linh Quang dẫn sứ giả đến xem ĐVSKTT, KĐVSTGCM
11.    Khánh thành bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh 1122 Ở Đội Sơn Cấm mọi người không được dùng gậy gỗ và đồ sắc nhọn đánh nhau  
12.    Mở hội khánh thành 8 vạn 4 nghìn bảo tháp 1129 Gác Thiên Phù   (Đại Việt sử lược chép là làm lễ mừng, tháp nhỏ làm bằng đất nung)
  Tô tượng        
  1. 1
Tô 4 pho tượng Thiên Đế 1016 Ở chùa Thiên Quang, Thiên Đức   ĐVSKTT,ĐVS,VSL
Khánh thành pho tượng Phật Đại Nguyện 1036   Đại xá thiên hạ (KĐVSTGCM mở hội ăn mừng ở sân rồng) ĐVSKTT, KĐVSTGCM
  1. 2
Khánh thành hơn một nghìn pho tượng Phật và vẽ hơn nghìn bức tranh Phật, làm bảo phướn hơn 1 vạn lá 1040     ĐVSKTT, ĐVSKTB, KĐVSTGCM
  1. 3
Đúc tượng Phật Di Lặc và hai vị Bồ Tát Hải Thanh. Công đức chuông 1041 Viện Từ Thị Thiên Phúc núi Tiên Du   ĐVSKTT
  1. 4
Dựng tượng Phạn vương Đế Thích bằng vàng 1057 Bày trong chùa Thiên Phúc, Thiên Thọ   ĐVSKTT
  1. 5
Dựng tượng Phật quý 1000 pho 1114 Chùa Thắng Nghiêm, nhà Thiện Pháp Bốn mặt xây lầu Thiên Phật để tượng ĐVSL,VSL
  1. 6
Tô tượng Thích Đế 1134 Cùng với dựng hai chùa Thiên Ninh, Thiên Thành   ĐVSKTT
  1. 7
Vua ngự đến

Khánh thành tượng Tam Tôn bằng vàng bạc

1135 Chùa Ngũ Nhạc   ĐVSKTT
  1. 8
Xuống chiếu lấy vàng ở trong kho thếp tượng Phạn Vương, Đế Thích 1158 Đặt chùa Thiên Phù, Thiên Hựu   Đại Việt sử lược chép chùa Thiên Hựu là chùa Thiên Hỗ
  1. 9
Dùng vàng và bạc mạ tượng Phạn Vương và tượng Thích Đế rồi đem đặt hai ngôi chùa Thiên Phù, Thiên Hựu 1194 Chùa Thiên Phù, Thiên Hựu   VSL, ĐVSL
V Đúc chuông, dựng bia        
1.        Đúc chuông lớn 1010 Treo chùa Đạo Giáo Phát bạc ở kho 1680 lạng để đúc chuông ĐVSKTT
2.        Đúc chuông 1014

(Mùa thu)

Treo ở chùa Ứng Thiên Xuống chiếu phát 310 lạng vàng để đúc chuông. ĐVSKTT
3.        Đúc 2 quả chuông 1014

(Mùa đông)

Chùa Thắng Nghiêm, tinh lâu Ngũ Phượng Phát trăm lạng bạc để đúc chuông ĐVSKTT
4.        Đúc chuông lớn (3 quả chuông để ở 3 chùa) 1019 Để ở chùa Hưng Thiên, Đạo Giáo, Thắng Nghiêm Phát vàng để đúc ĐVSKTT, KĐVSTGCM
5.        Xuống chiếu đúc chuông một vạn cân 1033 Sân Long Trì   ĐVSKTT
6.        Xuống chiếu đúc chuông 1035 Chùa Trung Quang (núi Tiên Du) Phát 6 nghìn cân đồng để đúc chuông. ĐVSKTT, ĐVSKTB
7.        Dựng bia 1038 Chùa Trùng Quang   ĐVSKTT
8.        Đúc chuông 1041 Viện Từ Thị Thiên Phúc, núi Tiên Du   ĐVSKTT
9.        Đúc chuông lớn

 

1056 Chùa Sùng Khánh Bảo Thiên Phát 1 vạn hai nghìn cân đồng ĐVSKTT, ĐVSL, ĐVSKTB, KĐCSTGCM
10.    Đúc chuông lớn 1080 Chùa Diên Hựu Chuông đúc xong không kêu cho rằng đã thành khí nên không tiêu hủy đem bỏ ở Quy Điền của chùa nên gọi là chuông Quy Điền ĐVSKTT

Các vị vua triều Lý cũng chú ý đến việc xây dựng tháp Phật đặc biệt là vua Lý Thái Tông (1028-1054) đã xây 4 tháp. Vua Lý Nhân Tông (1072-1127) xây dụng 7 tháp. Đặc biệt vua Lý Thần Tông cho dựng tám nghìn bốn trăm bảo tháp là một số lượng lớn thời bấy giờ. Tuy nhiên hiện tượng xây tháp chỉ diễn ra từ đời vua Lý Thái Tông đến vua Lý Thần Tông (1129) là kết thúc. Đến thời Lý Anh Tông (1138-1175), Lý Cao Tông (1175-1210) , Lý Huệ Tông, Lý Chiêu Hoàng không thấy sử sách nhắc đến. Nguyên thủy tháp Phật là nơi đựng tro thân, xá lợi Phật được chôn cất trong tháp.

Về vấn đề tô tượng trên, nhà Lý cho dựng nhiều tượng Phật, trong chính sử ghi chép 10 lần về tô tượng, nhưng đặc biệt vào các năm 1040, 1114 cho khánh thành hơn một nghìn pho tượng Phật và dựng tượng Phật 1000 pho ở chùa Thắng Nghiêm nhà Thiện Pháp; cho tô tượng Phật Đại Nguyên, Tam Tôn. Ngoài ra, còn nhiều lần cho to tượng Đế Thích, Phạn Vương và Tứ Thiên Đế. Vậy Tứ Đại Thiên Đế, Thiên Đế, Phạm Vương, Đế Thích và thần linh thuộc tôn giáo nào?

Tứ Đại Thiên Vương là bốn vị thần trên núi Tu Di trấn bốn phương. Phạn Vương là Brahma, Đế Thích là Indna. Thiên Đế là Thượng Đế theo như Kinh Lễ chương Khúc Lễ. Việc thờ Tứ Đại Thiên Vương là hiện tượng Phật giáo. Việc thờ Phạn Vương là một hiện tượng Bàlamôn giáo. Thờ Thiên Đế không liên quan trực tiếp với Phật giáo cũng như Bà la môn giáo, nhưng ít nhiều có sự đồng hóa nhất định với Đế Thích trong danh hiệu Ngọc Hoàng.

Bên cạnh đó, các vua Lý còn tiến hành đúc chuông, dựng bia để ca ngợi công đức của các vua và ánh sáng màu nhiệm của Phật Pháp. Nhất là hai vị vua đầu thời Lý đúc khá nhiều chuông vào các năm: 1010, 2 lần vào năm 1014, 1033, 1035 1038, 1041 và việc đúc chuông được ghi lần cuối cùng vào năm 1080, đến các năm sau không thấy ghi chép. Phải chăng việc đúc chuông tốn kém sức người sức của (hàng ngàn cân đồng) nên sau này các vua Lý đã hạn chế việc đúc chuông lớn. Tiếng chuông là cội nguồn của phong hóa, thanh giáo của thánh hiền cải hóa, biến đổi cuộc đời, khiến cho cuộc đời tốt đẹp hơn; an lạc hơn, giác ngộ giải thoát đưa chúng sanh qua bờ Niết bàn, bỏ xa bến khổ não tham sân của đức Đại Từ Bi.

Như vậy có thể thấy nhà Lý bỏ rất rất nhiều công sức tiền của để xây dựng nền tảng vật chất cho Phật giáo với quy mô lớn nhất trong lịch sử. Nguyên nhân khiến nhà Lý rất chú trọng phát triển các công trình Phật giáo một phần là do vua Lý Thái Tổ đã thấm nhuẩn tư tưởng giáo lý của Phật giáo và Phật giáo cũng đã góp phần rất lớn trong việc xác lập và ổn định chính trị buổi đầu của nhà Lý. Thứ hai là do tư tưởng tư bi bác ái của Phật giáo và nền tảng văn hóa bám rễ sâu vào nền văn hóa nên các vua cho xây dựng các công trình trên là chỗ dựa tinh thần của nhân dân.

Sự hưng thịnh của Phật giáo thời Lý còn được biểu hiện rõ nét ở tổ chức tăng đoàn. Các vua Lý đã kế thừa tổ chức tăng quan thời Đinh – Tiền Lê. Đây là tổ chức có tính chất tôn giáo liên quan chặt chẽ đến hệ thống nhà nước. Tăng quan thời Lý là những người giúp cho nhà nước quản lý hành chính về mặt tín đồ và bảo vệ quyền lợi của Phật giáo. Nhà Lý có nhiều chính sách gia tăng số lượng Phật tử:

“Năm 1016, Mùa xuân, tháng 3, độ cho hơn nghìn người ở kinh sư làm tăng đạo”[3]. Năm 1019, “xuống chiếu độ dân trong nước làm tăng”[4].

Nhà Lý có 4 lần độ cho dân làm sư trong đó có 1 lần trong kinh sư độ cho hơn nghìn người. Nhà Lý có chính sách độ dân làm sư nên số lượng sư sãi tăng lên rất nhanh. Xét dân số nước ta thời bấy giờ, thì chứng tỏ triều nhà Lý và người dân rất mộ đạo Phật.

Về chính sách của nhà nước về sử dụng việc tăng sư: nhà vua còn ra nhiều chính sách để bảo vệ quyền lợi của nhà chùa và các tăng sư. Năm 1088, “Định các chùa trong nước làm ba hạng đại, trung, và tiểu danh lam, cho các quan văn chức cao kiêm làm đề cử. Vua Lý còn cho phân cấp các chùa và cho phép các chùa có ruộng đất và điền nô riêng. Triều đình có chính sách cấp ruộng đất cho nhà chùa, làm cho nhà chùa thành một đơn vị kinh tế có tài sản”[5]. Bấy giờ nhà chùa có điền nô và kho nên đặt chức ấy[6]. Năm 1128, xuống chiếu rằng: “Phàm dân có ruộng đất bị sung công cũng bị tội phải làm điền nhu thì đều được tha cả. Các tăng đạo và dân phải làm lộ ông cũng được miễn. Cho sáu quân thay phiên nhau về làm ruộng”[7]. Các tăng đạo có tội thì đều được tha tội. Nhà sư Minh Không có công thì được vua cho dựng nhà. Điều này chứng tỏ sự ưu ái rất lớn của triều đình đối Phật giáo. Các nhà sư còn đóng vai trò lớn trong việc giáo dục. Thời gian đầu khi chưa có Văn miếu là cơ quan đào tạo Nho giáo chính thức thì vua vẫn tuyển dụng các nhà sư biết chữ Nho để sung vào bộ máy làm quan. Năm 1072, vua hạ chiếu tuyển chọn các bậc tăng sư có thơ (thi) dâng lên và bậc tăng quan biết chữ được xếp vào hàng Thư gia để bổ sung vào những chức quan bị thiếu.

Ngoài các chính sách để phát triển số lượng nhà sư, nhà Lý còn tích cực truyền bá tư tưởng đạo Phật bằng cách sang nhà Tống xin kinh, chép kinh và in kinh. Chính sử có ghi chép trong thời kỳ nhà Lý có 6 lần sang Tống xin kinh vào các năm 1018, 1028, 1034, 1081, 1098, 1120 và xuống chiếu chép kinh vào các năm 1027, 1028, 1036, 1124. Những lần xin kinh này tập trung chủ yếu vào thời kỳ đầu nhà Lý, đặc biệt vào đời Lý Nhân Tông (1072-1127) chứng tỏ vua Lý rất chú trọng đến việc truyền bá Kinh Phật trong xã hội.

Tranh vẽ mô phỏng vua Lý Nhân Tông (1072-1127)

Về các hoạt động, nghi thức liên quan đến Phật giáo thời Lý rất phong phú: Vua Lý nhiều lần tiến hành tắm Phật, rước Phật về cầu đảo như các năm 1072, 1073, 1105, 1137, 1188. Nghi lễ tắm Phật dựa theo niềm tin của mình có thể lễ Phật, lấy nước rưới lên thân Phật và tin tưởng rằng thân Phật và thân mình tẩy trừ hết ô nhiễm được thanh tịnh. Vua Lý còn cho lập đàn chay các năm 1014; 1019; 1102; 1135; làm lễ cầu siêu, vu lan vào các năm 1025, 1072, 1118, 1128, tạ lễ Phật năm 1128, thăm chùa: 1033,1063, 1087, 1124.

Đặc biệt, vua Lý tiến hành cầu tự vào các năm 1061, 1063, 1112, 1115. Hiện tượng đầu thai trong thời Lý là dấu ấn ảnh hưởng Phật giáo Tây Tạng. Từ Đạo Hạnh là nhà sư tiêu biểu cho Mật giáo Tây Tạng ở nước ta biểu hiện ở pháp thuật, đầu thai và xác ướp.

Ngoài ra còn một số hiện tượng khác như nhà sư Minh Bảo Tính và Phạm Minh Tâm tự thiêu cháy hết thành thất bảo năm 1034; tượng Phật trồi lên ở vườn dâu Ô Lộ; cột chùa chảy máu….

Về tính chất triết học của đạo Phật thời Lý, có tồn tại ba thiền phái: Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi xuất hiện từ năm 580 tồn tại trải dài suốt triều Lý; thiền phái Vô Ngôn Thông xuất hiện năm 820 tồn tại suốt triều Lý đến triều Trần; thiền phái Thảo Đường do nhà Lý lập nên vào năm 1069. Như vậy, xét về mặt tông phái Phật giáo thì không có triều đại nào phong phú đa dạng như triều Lý.

Để có cái nhìn tổng quan về sự phát triển của Phật giáo của nước ta dưới thời Lý, chúng tôi xin đưa ra bảng thống kê như sau:

BẢNG PHÂN TÍCH TỈ LỆ THÔNG TIN CHÍNH SỬ VỀ PHẬT GIÁO

Giai đoạn

 

Vấn đề 

Lý Thái Tổ

(1009-1028)

Lý Thái Tông

(1028-1054)

Lý Thánh Tông

(1054-1072)

Lý Nhân Tông

(1072-1127)

Lý Thần Tông

(1127-1138)

Lý Anh Tông

(1138-1175)

Lý Cao Tông

(1175-1210)

Lý Huệ Tông

(1210-1224)

Lý Chiêu Hoàng

(1224-1225)

Tổng
Số lượng Tỉ lệ

(%)

SL TL

(%)

SL TL

(%)

SL TL

(%)

SL TL

(%)

SL TL

(%)

SL TL

(%)

SL TL

%

SL TL

%

SL TL

(%)

A. CÁC VẤN ĐỀ XÂY DỰNG LQPG

17 10,2 10 5,95 16 9,52 30 17,86 8  

4,76

 

6 3,57 4 2,38 0       91 54,17
Xây chùa 11 6,55 3 1,79 8 4,76 18 10,71 5 2,97 4 2,38 1 0,6         50  
 Sửa chữa chùa 1 0,6         2 1,19     1 0,6 2 1,19         6  
Tô tượng 1 0,6 3 1,79 1 0,6 1 0,6 2 1,19 1 0,6 1 0,6         10  
Xây tháp         4 2,38 7 4,2 1 0,6                 12  
Đúc chuông, dựng bia 4 2,38 4 2,38 1 0,6 1 0,6                     10  
Văn tự         2 1,19 1 0,6                     3  
B. CÁC CHÍNH SÁCH LQPG 7 4,17 3 1,79     7 4,17 4 2,38 2 1,19 4 2,38 1 0,6     28 16,67
Độ làm tăng đạo 2 1,19             2 1,19                 4  
Phân cấp chùa, sử dụng tăng đạo 1 0,6         2 1,19 2 1,19 2 1,19 1 0,6         8  
Xin kinh, Làm nhà chứa kinh 2 1,19 2 1,19     3 1,79                     7  
Học hành và thi kinh             1 0,6         3 1,8 1 0,6     5  
Chép kinh 2 1,19 1 0,6     1 0,6                     4  
C. CÁC HOẠT ĐỘNG NGHI LỄ PHẬT GIÁO 5 2,97 3 1,79 3 1,2 12 7,19 7 4,19 3 1,79 2 1,19 0       35 20,83
Lễ rước Phật, tắm Phật             4 2,38 1 0,6     1 0,6         6  
Lập đàn 2 1,19         1 0,6     1 0,6             4  
Cầu siêu, vu lan 1 0,6         2 1,19 1 0,6                 4  
Tụng kinh 1 0,6 1 0,6             1 0,6             3  
Cầu tự         2 1,19     2     1,19             4  
Tạ lễ                 2                   2  
Thăm chùa, đi tu     1 0,6 1 0,6 2 1,19 0                   4  
Các sự kiện liên quan đến nhà sư 1 0,6 1 0,6     3 1,79 1 0,6 1 0,6 1 0,6         8  
D. CÁC HIỆN TƯỢNG LIÊN QUAN ĐẠO PHẬT 2 1,19 7 4,19         1 0,6 2 1,19 2 1,19         14 8,33
Tổng 31 18,45 23 13,69 19 11,32 49 29,17 20 11,9 13 7,73 12 7,14 1 0,6     168

 

100

        Như vậy, trong các vấn đề liên quan đến Phật giáo thời Lý thì việc xây dựng các đình đền, chùa tháp, tô tượng, đúc chuông được các vua Lý rất quan tâm. Có thể nói, sự phát triển rực rỡ của Phật giáo đã có dấu ấn lớn lao trong lịch sử dân tộc và để lại nhiều di sản văn hóa vật thể cũng như phi vật thể thể hiện qua các công trình kiến trúc còn hoặc đã mất, những áng thơ thiền bất hủ thời Lý – Trần và những dấu ấn còn đậm nét trong đời sống văn hóa, xã hội của nhân dân ta

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đại Việt sử ký toàn thư (2011), Nxb Khoa học xã hội
  2. Đại Việt sử ký tiền biên (1997) Nxb Khoa học xã hội
  3. Việt sử lược (2005), Nxb Thuận Hóa
  4. Đại Việt sử lược (1993), Nxb TP Hồ Chí Minh
  5. Việt sử thông giám cương mục (1998), Nxb Giáo dục
  6. Bùi Việt Mỹ, Nguyễn Tọa, Từ Liêm với văn hóa Thăng Long – Hà Nội, Nxb Lao động
  7. PGS.TS Nguyễn Duy Hinh, Lê Đức Hạnh (2004), Về hội nhập văn hóa trong lịch sử Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin và Viện Văn hóa, 2012
  8. GS. Hoàng Nam (2014), Văn hóa dân tộc, văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội
  9. Nguyễn Thị Bảy (1997), Văn hóa Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
  10. Sở Văn hóa thông tin (2010), Thăng Long Hà Nội ngàn năm Văn hiến
  11. Viện Triết học (2013), Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội thảo Quốc tế Phật giáo châu Á và Việt Nam trong tiến trình phát huy văn hóa dân tộc.
  12. Quý Long, Kim Thư (2011), Tìm hiểu văn hóa Phật giáo và lịch sử các ngôi chùa ở Việt Nam, Nxb Lao động.
  13. Phạm Văn Sinh (1995), Về vai trò phật giáo ở Việt Nam: Qua triều đại nhà Lý : LAPTSKH Triết học.
  14. TS. Nguyễn Hoài Văn (ch.b.), Tống Đức Thảo, Nguyễn Văn Huyên… (2008), Sự phát triển của tư tưởng chính trị Việt Nam thế kỷ X – XV: Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị Quốc gia.
  15. Nguyễn Văn Tân (2015), Văn hóa tâm linh Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin
  16. Trịnh Quang Vũ (2009) Lược sử Mỹ thuật Việt Nam, Nxb Từ điển Bách Khoa.
  17. Nguyễn Mạnh Cường (2000), Vấn đề tam giáo qua bài minh chuông chùa Thanh Lâm, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 4, tr. 24-29
  18. Nguyễn Quốc Tuấn (2005), Quy hoạch Tâm linh – tôn giáo của kinh thành Thăng Long, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 2, tr. 21-31
  19. Nguyễn Duy Hinh (2007), Đời sống tôn giáo Việt Nam trong lịch sử dân tộc, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 2, tr. 25-32
  20. Nguyễn Duy Hinh (1986), Hệ tư tưởng Lý, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử Số 1, tr. 7-15
  21. Trần Nguyên Việt (2006), Một số đặc điểm cơ bản của tư tưởng triết học dân tộc thời kỳ đầu độc lập (Thế kỷ X), Tạp chí Triết học Số 1, tr 48-52
  22. Bùi Thanh Phương (2009), Mối quan hệ tam giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quốc gia độc lập thời Lý – Trần, Tạp chí Triết học Số 1, tr.66-72
  23. Trần Nghĩa (2010), Quá trình hội nhập Nho – Phật – Lão hay sự hình thành tư tưởng ” Tam giáo đồng nguyên” ở Việt Nam, Tạp chí Triết học số 1, tr.23-29
  24. Hà Thúc Minh (2007), Tam giáo thời Lý Trần, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 11, , tr.8-29
  25. Mai Thanh Hải (2009), Về “Tam giáo Đồng Nguyên” ở Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 9, tr. 45-53
  26. Lê Thị Lan, Nguyễn Thị Hiếu (2010), Vua Lý Nhân Tông với Tam giáo, Tạp chí Triết học Số 10, tr. 37-42
  27. Nguyễn Thụy Loan (2009), Giá trị di sản văn hóa Phi vật thể ở Thăng Long – Hà Nội, Tạp chí Văn hóa dân gian số 6, tr. 18-27&53
  28. Nguyễn Công Lý(1996), Thiền học Lý – Trần với bản sắc dân tộc, Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 6, tr.11-14
  29. Trần Văn Mỹ(1994), Những di vật đời Lý ở chùa Đại Lâm, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Số 3, tr.44-45
  30. Nguyễn Công Lý (1997), Sự quân bình giữa tâm và trí trong thiền học Lý – Trần qua thuyết “tam ban” của ngộ ấn thiền sư, Tạp chí Nghiên cứu Phật học Số 4, tr. 15-17
  31. Thích Gia Quang (2000), Vài nét về Phật giáo thời Lý, Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 5, tr. 10-13
  32. Nguyễn Công Lý (2001), Vài nét về mối quan hệ giữ phật giáo Việt Nam thời Lý – Trần với phật giáo Ấn Độ, phật giáo Trung Quốc và tín ngưỡng văn hóa dân gian bản địa, Tạp chí Nghiên cứu Phật học Số 3, tr 26-28
  33. Nguyễn Thị Minh Ngọc (2004), Minh Thiện, Phật giáo Hà Nội quá trình du nhập và phát triển, Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 1, tr.50-53

Đinh Thị Nguyệt

 

Bài viết cùng chủ đề

Back to top button