Hội nghị Đối thoại châu Á – Thái Bình Dương về Di sản và Tính xác thực

Hơn ba thập kỷ sau khi Văn kiện Nara về Tính xác thực được thông qua năm 1994, bối cảnh nhận diện, bảo tồn và quản lý di sản đã có nhiều thay đổi sâu sắc. Biến đổi khí hậu, thiên tai, xung đột, dịch chuyển dân cư, đô thị hóa, du lịch, công nghệ số và những biến đổi trong thực hành di sản đang đặt ra những câu hỏi mới về cách xác định, đánh giá và bảo vệ tính xác thực trong hệ thống Di sản Thế giới.

Hội nghị Đối thoại châu Á – Thái Bình Dương về Di sản và Tính xác thực sẽ quy tụ các nghiên cứu trường hợp với sự góp mặt của nhiều chuyên gia từ khắp khu vực, qua đó đóng góp vào quá trình thảo luận và trao đổi quốc tế đang diễn ra về tính xác thực. Hội nghị được xây dựng trên nền tảng Văn kiện Nara về Tính xác thực năm 1994, Văn kiện Nairobi về Di sản và Tính xác thực năm 2025, cùng các quyết định liên quan của Ủy ban Di sản Thế giới và kinh nghiệm thực tiễn trong khu vực.

Mục tiêu trọng tâm của Hội nghị là xem xét một cách hệ thống các trường hợp điển hình tại châu Á – Thái Bình Dương, từ đó chuyển hóa các kết quả thảo luận thành các khuyến nghị thực tiễn phục vụ công tác nhận diện di sản, xây dựng Danh sách Đề cử Dự kiến, Đánh giá sơ bộ (Preliminary Assessment), lập hồ sơ đề cử, đánh giá, bảo tồn, quản lý, phục dựng và phát huy giá trị, giám sát, đào tạo, cũng như hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý và chính sách quốc gia có liên quan. Thông qua đó, Hội nghị hướng tới làm rõ cách tiếp cận rộng hơn nhưng vẫn dựa trên bằng chứng về tính xác thực, góp phần xây dựng vào một Danh sách Di sản Thế giới có tính đại diện, cân bằng và đáng tin cậy hơn, đồng thời vẫn bảo đảm các yêu cầu về Giá trị Nổi bật Toàn cầu, tính toàn vẹn, cơ chế bảo vệ và quản lý hiệu quả.

Hội nghị diễn ra trong năm 2026, đánh dấu 50 năm quan hệ Việt Nam – UNESCO (1976–2026), đồng thời hướng tới kỷ niệm 40 năm Việt Nam tham gia Công ước Di sản Thế giới năm 2027.

Xem chi tiết Hội nghị TẠI ĐÂY.

Tính đến tháng 8/2026, Việt Nam có 9 di sản thế giới (bao gồm di sản văn hóa, thiên nhiên và hỗn hợp) cùng nhiều di sản văn hóa phi vật thể và di sản tư liệu được UNESCO vinh danh.

Di sản Thế giới (Vật thể, Thiên nhiên và Hỗn hợp)

  • Quần thể di tích Cố đô Huế (1993) – Di sản văn hóa.
  • Vịnh Hạ Long – Quần đảo Cát Bà (1994, 2000 và mở rộng năm 2023) – Di sản thiên nhiên.
  • Đô thị cổ Hội An (1999) – Di sản văn hóa.
  • Thánh địa Mỹ Sơn (1999) – Di sản văn hóa.
  • Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (2003) – Di sản thiên nhiên.
  • Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội (2010) – Di sản văn hóa.
  • Thành nhà Hồ (2011) – Di sản văn hóa.
  • Quần thể danh thắng Tràng An (2014) – Di sản hỗn hợp (văn hóa và thiên nhiên).
  • Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm, Côn Sơn, Kiếp Bạc (2026) – Di sản văn hóa.

Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại

  • Nhã nhạc cung đình Huế (2003)
  • Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên (2005)
  • Dân ca Quan họ Bắc Ninh (2009)
  • Ca trù (2009)
  • Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc (2010)
  • Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ (2012)
  • Đờn ca tài tử Nam Bộ (2013)
  • Ví, Giặm Nghệ Tĩnh (2014)
  • Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt (2016)
  • Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ (2017)
  • Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái (2019)
  • Nghệ thuật Xòe Thái (2021)
  • Nghệ thuật làm gốm của người Chăm (2022)
  • Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam (2024)
  • Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ (2025)

Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội

Quần thể danh thắng Tràng An

Back to top button